Home
  • Home
    • ►Introduction
    • ►Regulations
  • Search
  • News
    • ►Announcement
    • ►LRC news
    • ►TNU news
    • ►Educational news
    • ►Scholarship news
    • ►New materials
    • ►Student channel
    • ►Collaborative training
    • ►IT news
    • ►Library news
    • ►Frequency books
    • ►Reading culture
    • ►Others
  • Resources
    • ►On-site Consultation Collection
    • ►Monograph Collection
    • ►Databases in English
    • ►Textbooks
    • ►Audio Visual Collection
    • ►Special Collection
    • ►Periodicals and Newspapers
    • ►Donated collection
    • ►Databases of the Learning Resource Center
  • Services
    • ►Library Services
    • ►Language Services
    • ►Multipurpose Space Hiring
    • ►Other Services
  • Guide
    • ►Video guides
    • ►Guide WIFI network
    • ►Registration card and renewal
    • ►Guide to open services
  • Training
  • Contact
Home

Trường ĐHSP-ĐHTN tổ chức thành công Hội thảo khoa học cán bộ trẻ trường ĐHSP-ĐHTN

PostDateIcon Fri, 20/05/2011 - 08:50 | PostAuthorIcon webadmin

Chiều ngày 14/5/2011, Trường ĐHSP-ĐHTN đã tổ chức thành công "Hội thảo khoa học cán bộ trẻ". Với 38 bài báo cáo khoa học được in trong kỷ yếu và trình bày tại Hội thảo đã khẳng định kết quả NCKH của cán bộ trẻ trường ĐHSP - ĐHTN trong thời gian qua. Hội thảo là diễn đàn khoa học để cán bộ trẻ gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, trình bày các kết quả nghiên cứu và ứng dụng KH-CN. Đây là một trong những hoạt động quan trọng và thiết thực của cán bộ trẻ hưởng ứng phong trào thi đua lập thành tích chào mừng 45 năm thành lập Trường.

 

       Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên hiện có 577 cán bộ viên chức với 380 giảng viên. Trong đó có 20 PGS, 65 tiến sĩ, 262 Thạc sĩ, 95 cử nhân và 118 cán bộ đang đi học nghiên cứu sinh, 42 cán bộ đang học thạc sĩ. Nhà trường đang đào tạo 11.510 sinh viên chính qui đang theo học tại 21 chuyên ngành đào tạo, 673 học viên cao học đang học tập tại 19 chuyên ngành và 65 nghiên cứu sinh đang học tập và nghiên cứu tại 7 chuyên ngành. Trong đó có  201 giảng viên trẻ dưới 35 tuổi (chiếm tỷ lệ 52,89%). Trong đó có 8 Tiến sĩ, 146 Thạc sĩ, 50 Cử nhân và 96 cán bộ đang theo học NCS, 37 đang theo học thạc sĩ.

Toàn cảnh hội thảo
           Trong giai đoạn 2006-2011 các giảng viên trẻ đã đạt được kết quả rất đáng tự hào trong lĩnh vực NCKH, cụ thể:
-         Chủ trì 46 đề tài cấp Bộ (chiếm 37,7% toàn trường);
-         Chủ trì 20 đề tài cấp ĐHTN (chỉ tính riêng năm 2011 – chiếm tỷ lệ 76,9%);
-         Chủ trì 71 đề tài cấp cơ sở (chiếm tỷ lệ 38,58%);
-         Công bố 27 bài báo quốc tế (chiếm tỷ l ệ 60%) và 149 bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành trong nước (chiếm 36,53%).
          Hội thảo khoa học được tổ chức nhằm ghi nhận những đóng góp quan trọng của cán bộ trẻ với sự phát triển của nhà trường và tạo cơ hội để cán bộ trẻ công bố các kết quả nghiên cứu, chia sẽ kinh nghiệm và quảng bá các sản phẩm NCKh của mình.  Hội thảo còn nhắm đến mục tiêu tập hợp trí tuệ của các nhà khoa học trẻ, tìm ra các giải pháp, cơ chế hoạt động phù hợp để đưa hoạt động này trở thành thường niên.        
           Với quan điểm coi nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng được ưu tiên hàng đầu của quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy đối với Trường ĐH Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Hội thảo đã được các đồng chí trong Đảng uỷ, Ban Giám hiệu: PGS.TS. Phạm Hồng Quang- Bí thư Đảng uỷ- Hiệu trưởng; PGS.TS. Phạm Hiến Bằng - Đảng ủy viên - Phó hiệu trưởng nhà trường, Ths.Dương Duy Hùng-PBT-Phó Hiệu trưởng nhà trường cùng các đồng chí trong phòng chức năng và Ban chủ  nhiệm các khoa trực tiếp tham dự và trao đổi khoa học.       
PGS.TS. Phạm Hồng Quang phát biểu khai mạc hội thảo
            Hiệu trưởng nhà trường PGS.Ts Phạm Hồng Quang trong diễn văn khai mạc đã khẳng định: -Trong thời gian gần đây, trường ĐH Sư Phạm- ĐH Thái Nguyên đã tuyển chọn được 37 báo cáo chất lượng tốt gửi đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ của Đại học Thái nguyên. Đây là một trong những hoạt động quan trọng và thiết thực của cán bộ trẻ hưởng ứng phong trào thi đua lập thành tích chào mừng 45 năm thành lập Trường.
            Để động viên, khuyến khích tạo điều kiện cho các giảng viên trẻ trong  nhà trường tham gia NCKH, Nhà trường có chủ trương ưu tiên xét duyệt đề tài NCKH cấp Bộ, cấp Cơ sở cho các đối tượng là các cán bộ trẻ (2/3 số lượng đề tài cấp Bộ là do các nghiên cứu sinh chủ trì). Ngoài ra, Nhà trường còn có chế độ chính sách ưu đãi cho các cán bộ đi học, bảo vệ luận án đúng hạn, có bài đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và quốc tế.
           Đoàn chủ tịch bao gồm PGS.TS. Phạm Hiến Bằng, PGS.TS. Đỗ Hồng Thái và Ths. Nguyễn Hữu Toàn đã điều khiển hội thảo         
 Chủ tịch đoàn
                Chuẩn bị cho Hội thảo khoa học cán bộ trẻ Trường Đại học sư phạm – ĐHTN năm 2011, BTC đã nhận được 38 báo cáo từ 9 đơn vị trong Trường. Các báo cáo được thẩm định cẩn trọng và chỉnh sửa theo đề nghị phản biện của các nhà khoa học, đáp ứng các yêu câù nghiêm ngặt trong khuôn khổ bài báo đăng tải trên Tạp chí KH&CN của Đại học Thái Nguyên. Phân loại theo lĩnh vực nghiên cứu, có 18 báo cáo thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, 11 báo cáo thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và 8 báo cáo thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục, cụ thể: 
1.      Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
      Lĩnh vực này gồm các bài viết của các ngành Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Lí luận chính trị cho thấy tính đa dạng của những đề tài nghiên cứu. Các báo cáo từ ngành Ngữ văn đã chọn các vấn đề “nóng” của lí luận phê bình văn học hiện đang tranh luận để góp thêm một cách tiếp cận và luận giải vấn đề theo chủ kiến khoa học của mình. Dương Thu Hằng đã “ Bàn về vai trò truyền bá chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký” để khẳng định ông là “ một người chủ trương tự trị văn hoá hơn là nhà hoạt động chính trị” sử dụng văn hoá như một công cụ sắc bén để đấu tranh. Nông Thị Trang coi “ Sự xuất hiện của Thiếu Sơn trong hoạt động phê bình văn học Việt Nam hiện đại” có đóng góp đáng kể nhất về lí luận phê bình văn học, so với nhiều đóng góp khác dẫu ông là một con người toàn năng sở hữu vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Những đóng góp của văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam từ 1960 đến nay hay một cách nhìn mới về đề tài chíên tranh khi khai thác “cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết chim én bay của Nguyễn Trí Huân”  được các tác giả Cao Thị Thu Hoài, Ngô Thu Thuỷ trình bày hấp dẫn trong bài viết của mình.

      Các báo cáo về Ngôn ngữ đã lựa chọn mảng đề tài khảo cứu sự phát triển của tiếng Việt và bản ngữ của của các dân tộc thiểu số trước sự phát triển của xã hội hiện thời. Nếu Nguyễn Mạnh Tiến hướng người đọc “ phân biệt chủ ngữ với tân ngữ dựa vào kết trị của động từ - vị ngữ”, Nguyễn Thu Quỳnh xác định “hệ thống thanh điệu trong tiếng Pà Thẻn”, thì Phạm thị Thu Hoài cảnh báo mọi người về “hiện tượng lóng trên báo chí nhìn từ từ bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa” đang làm hoen mờ sự trong sáng của tiếng Việt hiện nay.
     Các báo cáo về Lịch sử và Địa lí thể hiện sự gắn kết chặt chẽ những nội dung nghiên cứu khoa học với yêu cầu thực tiễn của địa phương. Đánh giá thực trạng kinh tế, điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất và kiếm tìm các giải pháp phát triển các ngành kinh tế nông lâm nghiệp, du lịch, dịch vụ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn… được các tác giả Hoàng Mĩ Hạnh, Phạm Thu Thủy, Phạm Hương Giang, Hoàng Thị Hoài Linh, Đào Duy Minh, Nguyễn Văn Sơn trình bày theo cách tiếp cận khác nhau trong các bài viết của mình. Trước tốc độ đô thị hóa nhanh chóng ở một số địa phương, vấn đề “phát triển bền vững”, “xử lí ô nhiễm môi trường” và cảnh báo những “nguy cơ của nền nông nghiệp trước những biến đổi khí hậu” cũng như vấn đề an sinh xã hội, “quyền bình đẳng của các dân tộc” trong quá trình phát triển…được các tác giả Vũ Vân Anh, Lê Thị Nguyệt, Vũ Thị Thủy nhấn mạnh và khuyến cáo trong các kết quả nghiên cứu của mình.
      Trong quá trình hội nhập và phát triển, việc toàn cầu hóa đang đặt ra những cơ hội gắn liền với nguy cơ và thách thức khó lường. “Học thuyết giá trị của Mác” có ý nghĩa gì đối với việc “quản lí nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”; vấn đề “bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc” của Việt Nam cũng như các nước đang phát triển sẽ như thế nào trong điều kiện toàn cầu hóa. Những vấn đề trên được luận giải trong các báo cáo của Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Khương, Nguyễn Hữu Toàn và một số tác giảc trong các bài viết khác.
Các cán bộ trẻ và sinh viên tham dự hội thảo
2.      Lĩnh vực khoa học tự nhiên.
     Điều nổi bật qua các báo cáo thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên là sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo các cán bộ trẻ không chỉ ở trong mà cả ngoài Trường, cùng phối hợp nghiên cứu, công bố các kết quả với niềm hứng khởi và đam mê. Một số bài có sự dẫn dắt của các nhà khoa học giàu kinh nghiệm chuyên môn và hình thành định hướng nghiên cứu theo nhóm, nền tảng cần thiết khởi đầu của trường phái khoa học trong tương lai.  Đặc biệt, báo cáo đồng tác giả Nguyễn Văn Trường, Phạm Đình Lâm được đăng tải bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh xứng đáng được hoan nghênh, trân trọng. Chúng tôi hy vọng ở những hội thảo lần sau  sẽ có thêm nhiều báo cáo tương tự của các tác giả trẻ để tiếp cận phương pháp nghiên cứu và công bố kết quả rộng rãi trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín ở ngoài nước.
      Các bài viết về chuyên ngành Toán - Tin đặc biệt chú ý các bài toán ứng dụng để giải quyết những vấn đề thiết thực của khoa học công nghệ phục vụ cuộc sống.“Ứng dụng thuật toán xâu con chung dài nhất trong so sánh mã nguồn chương trình” (Trần Ngọc Hà, Triệu Hải Long, Nguyễn Ngọc Tuấn), “ Phân loại tin tức tiếng Việt dựa trên mô hình tập thô dung sai”  (Trần Ngọc Hà) ; “ Giải thuật di truyền với các gen phụ thuộc nhau” của Vũ Trọng Sinh, Trương Thị Hương, Vũ Mạnh Xuân…đã chứng minh điều đó.
     Cùng những định hướng như vậy, các báo cáo của ngành Vật lí và Hóa học cũng đi sâu nghiên cứu các đề tài vì mục đích “khoa học vị nhân sinh”.

Nhóm tác giả Chu Việt Hà, Vũ Thị Kim Liên, Trần Hồng Nhung, Lê Tiến Hà đã nghiên cứu “ Phát xạ hùynh quang của các chấm lượng tử CdSe và CdSe/CdS cho ứng dụng đánh dấu sinh học”; Vũ Thị Hậu, Đặng Thị Thúy đã trình bày “ Khả năng hấp phụ thuốc nhuộm xanh hoạt tính 19 của quặng sắt và quặng sắt biến tính” hay “ nghiên cứu thành phần hóa học, tách chiết hợp chất POLIPHENOL trong cây chè xanh Thái Nguyên” của Mai Thanh Nga. Việc khảo sát các điều kiện chiết phức các hợp chất hoá học để xác định kim loại trong dung dịch hay các phép đo, phép thử hóa học khác được đề cập trong các báo cáo của Mai Thanh Nga, Mai Xuân Trường, Vũ Ánh Tuyết và một số tác giả khác.
3.Lĩnh vực khoa học giáo dục.
      Trong 8 báo cáo thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục có thể chia thành 2 loại hình nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
3.1 Nghiên cứu cơ bản.
     Các đề tài nghiên cứu về những yêu cầu, những điều kiện , những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên trong trường đại học hay việc lựa chọn nghề của học sinh cuối cấp phổ thông.
     Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền khi xác định “Những yêu cầu về năng lực của người giáo viên làm công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông” đã nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của các năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm và năng lực tư vấn. Tìm hiểu nhận thức của sinh viên Trường ĐHSP-ĐHTN về phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, tác giả Đinh Đức Hợi đã  đi sâu tìm hiểu “một số nguyên nhân tác động” ở bình diện chung, còn tác giả Phạm Văn Cường, Phạm Thị Tuyết lại đi sâu nghiên cứu một nội dung cụ thể là “kĩ năng tự học của sinh viên dân tộc thiểu số”.
3.2 Nghiên cứu ứng dụng
     Hầu hết các báo cáo tập trung vào mảng đề tài nghiên cứu các hình thức tổ chức, các phương pháp và kĩ thuật dạy học.

     Một hình thức tổ chức dạy học còn rất mới mẻ qua sử phương tiện kĩ thuật đa dụng là điện thoại di động được tác giả Trịnh Thị Phương Thảo trình bày trong báo cáo với tiêu đề “Ứng dụng M-leaning vào dạy học toán ở trường phổ thông”; Tác giả Bạch Phương Vinh lấy việc “giải toán quỹ tích và dựng hình” để “rèn luyện khả năng phân tích tổng hợp cho học sinh lớp 9 – THCS”.
      Nâng cao chất lược giáo dục học sinh tiểu học được các tác giả tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, từ Trường Đại học Sư phạm – ĐHTN như một chiếc “máy cái” đến hoạt động cụ thể ở trường phổ thông.  Nếu Lâm Thùy Dương đưa việc “tổ chức Xêmina thực hành giải toán như một biện pháp nâng cao chất lượng dạy học cho sinh viên ngành tiểu học”, thì Nguyễn Thị Thu Hằng lại “sử dụng sơ đồ tư duy để hệ thống hóa nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh” và Trần Ngọc Bích lấy việc “phát triển từ vựngtoán học” để hình thành ngôn ngữ toán họccho học sinh tiểu học.
      Như vậy, 37 báo cáo thuộc các chuyên ngành hẹp khác nhau, đã công bố kết quả nghiên cứu từ nhiều đề tài khoa học các cấp, các luận văn, luận án đang trong quá trình thực hiện hoặc đã hoàn thành, đủ thấy tính sinh động, đa dạng, muôn màu của các loại hình nghiên cứu.
PGS.TS. Phạm Hiến Bằng đã khẳng định kết quả hội thảo
 
      Kết luận hội thảo, PGS.TS. Phạm Hiến Bằng đã khẳng định kết quả hội thảo và đưa ra các định hướng để tiếp tục phát huy tiềm năng to lớn trong NCKH của các bộ trẻ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, vị thế của nhà trường.
 
Trịnh Thanh Hải theo ĐH Sư Phạm TN
  • English English
  • Tiếng Việt Tiếng Việt

Forums
LRC newsletter

Internal mail
Elsevier

World Bank VietNam