Pháp lệnh thư viện (PLTV) được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X thông qua ngày 28 tháng 12 năm 2000 và có hiệu lực từ 01 tháng 04 năm 2001mang ý nghĩa to lớn đối với ngành thư viện Việt Nam.
PLTV đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng, giúp các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp, các ngành ban hành các văn bản pháp quy hướng dẫn và cụ thể hóa những nội dung quy định trong PLTV, từ đó thúc đẩy sự phát triển của thư viện Việt Nam và tạo niềm tin, động lực cho những người làm công tác thư viện. Đồng thời PLTV đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan trung ương và địa phương có liên quan đầu tư, tạo điều kiện hơn nữa cho sự nghiệp thư viện.
Sau 10 năm ra đời, cùng với sự lớn mạnh của ngành thư viện Việt Nam và thế giới, nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng, những biến động không ngừng của kinh tế xã hội và tác động của tiến bộ khoa học công nghệ, rõ ràng, đã đến lúc chúng ta cần có những nhìn nhận, đánh giá khách quan, mang tính tổng thể về vai trò của PLTV, đề xuất những điều chỉnh bổ sung cần thiết đối với PLTV, tiến tới xây dựng luật thư viện Việt Nam một cách toàn diện và khoa học nhất.
I. Tình hình thực hiện PLTV tại Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1. Tình hình thực hiện và tác động của PLTV tới các hoạt động của TTHL
Với sự ra đời của PLTV, rất nhiều cơ quan trung ương và địa phương đã có cơ sở pháp lý để ban hành các văn bản, và thực hiện các quy định nhằm triển khai các kế hoạch, hoạt động liên quan tới công tác thư viện. Tại TTHL, rất nhiều chính sách, quy định, và kế hoạch hoạt động đã được hoạch định và triển khai, dựa trên các điều khoản của PLTV. Cụ thể là:
2. Khó khăn trong quá trình thực hiện
PLTV ra đời thực sự có ý nghĩa quan trọng với công tác thư viện ở Việt Nam. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Pháp lệnh, các thư viện đại học như TTHL cũng còn gặp nhiều khó khăn.
Khó khăn đầu tiên là sự không thống nhất, hoặc không rõ ràng trong chính nội dung của PLTV hoặc giữa nội dung của PLTV với nội dung các văn bản khác. Ví dụ như, PLTV có chia ra 02 loại hình thư viện là thư viện công cộng và thư viện đa ngành, chuyên ngành; trong khi đó, Quyết định 178/CP ngày 16 tháng 9 năm 1970 của Hội đồng chính phủ “Về công tác thư viện” lại chia hệ thống thư viện thành thư viện khoa học và thư viện phổ thông. Một ví dụ khác là khoản 1 Điều 7 tại PLTV quy định: “Tổ chức của Việt Nam có quyền thành lập thư viện theo quy định tại Pháp lệnh này”. Nhưng khoản 2 của Điều 7 lại quy định: “Tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam có quyền tham gia vào các hoạt động do thư viện tổ chức”. Vậy nên hiểu các “hoạt động do thư viện tổ chức” là các hoạt động nào, và tham gia đến mức độ nào? Đây chính là vấn đề cần phải quy định rõ ràng hơn nữa để các thư viện có thể thực hiện theo.
Khó khăn thứ hai là việc thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể việc thực thi các điều khoản trong PLTV như kinh phí cấp cho thư viện được thực hiện dựa theo tỷ lệ nào, biên chế thư viện do hiệu trưởng quy định dựa trên các tiêu chí gì, số lượng các trang thiết bị cụ thể cho từng loại hình thư viện …
Bên cạnh đó, không thể phủ nhận một thực tế là tại một số trường đại học và địa phương, lãnh đạo nhà trường, các phòng, ban, cũng như bản thân cán bộ, giảng viên, sinh viên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của thư viện, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ như hiện nay. Từ đó dẫn đến việc chưa chú trọng đầu tư, lập kế hoạch hoạt động và phát triển cho công tác thư viện cũng như đào tạo, bổ sung nhân lực cho bộ phận này. Ở nhiều trường, thư viện vẫn chỉ là một bộ phận nhỏ, trực thuộc Ban giám hiệu, Ban Quản lý khoa học hay Ban Công nghệ thông tin-thư viện và các hoạt động của thư viện rất mờ nhạt, ít tạo được dấu ấn riêng đối với tập thể nhà trường. Một kết quả khác của nhận thức không đầy đủ về công tác thư viện là một số trường còn chưa thực thi đầy đủ các văn bản về chế độ đãi ngộ với cán bộ nhân viên thư viện và không chú trọng cho các hoạt động tuyên truyền văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới thư viện.
Cuối cùng là nhận thức của toàn xã hội về công tác thư viện còn hạn chế. Một phần lỗi này cũng do chính các cơ quan chủ quản và bản thân các thư viện chưa tích cực hoặc chưa có điều kiện thực hiện các hoạt động quảng bá về ngành thư viện và các hoạt động của cơ quan mình. Đối với nhiều người, thư viện vẫn chỉ đơn thuần là kho chứa sách, ít cập nhật, thủ tục mượn trả sách phiền hà cùng đội ngũ nhân viên chưa có trình độ cao, thiếu nhiệt tình và kém thân thiện trong công việc. Mặc dù các nỗ lực thay đổi định kiến này đã có những thành công nhất định, nhưng nhìn chung, trong hệ thống đại học và trong con mắt của cộng đồng, thư viện vẫn là một khái niệm mơ hồ về một ngành khiêm tốn, nhỏ nhoi và chậm tiến.
II. Hướng tới hoàn thiện các văn bản luật về Thư viện Việt Nam
1. Các điều khoản cần có văn bản cụ thể hóa nội dung
2. Các nội dung cần bổ sung
Cần có các văn bản pháp quy quy định các vấn đề sau đây:
III. KẾT LUẬN
PLTV ra đời mang ý nghĩa quan trọng vì nó tạo cơ sở pháp lý cho việc ra đời các văn bản pháp quy khác và mở đường cho cơ quan tổ chức có thẩm quyền thực thi các quy định, chế tài nhằm thúc đẩy hoạt động của ngành thư viện Việt Nam. Tuy vậy, do sự biến đổi không ngừng của khoa học kỹ thuật, sự lớn mạnh từng ngày của ngành thư viện Việt Nam và thư viện thế giới, đã đến lúc cần có những điều chỉnh phù hợp đối với một số nội dung trong PLTV nhằm hỗ trợ sự phát triển và hội nhập của thư viện Việt Nam. Đồng thời, chúng ta cần xem xét để ban hành Luật Thư viện Việt Nam nhằm cụ thể hóa và tạo ra cơ sở pháp lý vững vàng hơn nữa cho các hoạt động của thư viện Việt Nam, từ đó phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bài viết dựa trên tham luận gửi Hội nghị Tổng kết 10 năm Pháp lệnh Thư viện Việt Nam.
PGS. TS. Nguyễn Duy Hoan, ThS. Vũ Minh Huệ
Gia hạn sách | Tuyên bố bản quyền | Site map| Nội quy | Liên hệ
Lên đầu trang