I. Tại sao cần Quy tắc biên mục mới?
Cộng đồng thư viện thế giới và cả Việt Nam vẫn đang quen dùng Quy tắc biên mục Anh - Mỹ (AACR2) trong một thời gian tương đối dài. Nhưng thực tế đã cho thấy cần có sự thay đổi, điều chỉnh AACR2 vì các lý do sau đây:
Trong bối cảnh đó, Quy tắc mô tả và truy cập tài nguyên (tạm dịch từ tên tiếng Anh Resource Description and Access, viết tắt là RDA) đã ra đời như là một trong các giải pháp hiện đại hoá, cập nhật và quốc tế hoá các hoạt động của thư viện.
II. Tổng quan về RDA
RDA được xây dựng trên cơ sở các quy tắc nghiệp vụ đối với biểu ghi thư tịch (FRBR, ra đời năm 1998), các quy tắc nghiệp vụ cho dữ liệu có thẩm quyền (FRAD, ra đời năm 2009) và các quy tắc biên mục quốc tế của IFLA (ICP, ra đời năm 2009). Do đó RDA rất chú trọng đến các tác vụ dành cho người dùng tin, nhằm mục đích cung cấp nhiều kết quả tìm kiếm phù hợp nhất và cho phép họ di chuyển qua lại giữa các nguồn tài nguyên và biết được mối liên hệ giữa các tài nguyên có liên quan. (Do RDA sử dụng khái niệm “resource” để chỉ đối tượng được biên mục nên trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi tạm dịch là “tài nguyên” hoặc “nguồn tài nguyên” mà không dịch là “tài liệu” hay “nguồn tin” vì khái niệm “resource” bao quát nhiều ý nghĩa rộng lớn hơn. Tương tự chúng tôi sử dụng khái niệm “người dùng tin” thay vì khái niệm “độc giả” hay “bạn đọc”)
Mục đích cơ bản của RDA là giúp cho người dùng tin “tìm kiếm, xác định được, lựa chọn được và có được” tài liệu, thông tin, vật thể … mà họ mong muốn (“find, identify, select, obtain”).
RDA là một chuẩn về nội dung chứ không phải là chuẩn về khổ mẫu hay chuẩn mã hoá. Có thể sử dụng RDA với bất kỳ một khổ mẫu nào như MARC21 hay Dublin Core, MODS, ...
Khác với AACR2, RDA không được phân chia thành từng chương cho từng loại hình tài nguyên mả chỉ có các quy tắc áp dụng chung cho tất cả các loại hình tài nguyên nhằm tránh sự trùng lặp giữa các chương với nhau như trong AACR2. RDA lấy yếu tố (element) làm cơ sở phân chia và được chia thành 3 phần: mô tả tài nguyên, mối liên hệ giữa các yếu tố và kiểm soát điểm truy cập. Ba phần của RDA lại được chia thành từng chương cho từng yếu tố. Chương 1 đến chương 7 phân chia các loại hình tài nguyên. Chương 8 đến chương 11 và chương 16 xác định cá nhân, dòng họ và tập thể liên quan đến tài nguyên. Chương 17 đến chương 22 xác định mối liên hệ giữa cá nhân, dòng họ, tập thể và tài nguyên. Chương 24 đến 28 xác định mối liên hệ giữa các tài nguyên. Chương 29 đến chương 32 xác định mối liên hệ giữa cá nhân, dòng họ và tập thể.
Một ý tưởng chung bao trùm lên toàn bộ RDA là: “take what you see and accept what you get”, tạm dịch là khi mô tả tài nguyên, hãy “mô tả cái chúng ta nhìn thấy và chấp nhận kết quả chúng ta có được”, nhằm tôn trọng tài nguyên được mô tả, tránh chỉnh lý, bổ sung quá nhiều và mất nhiều thời gian biên mục.
Rõ ràng chúng ta có thể thấy RDA là một công cụ biên mục trực tuyến, mang tính linh hoạt cao, cho phép cơ quan và cán bộ biên mục có nhiều lựa chọn và có các chính sách biên mục riêng, dựa trên các hướng dẫn của RDA. Có thể xem nội dung của RDA bằng cách chuyển đổi qua lại từ AACR2 sang hoặc từ MARC 21 sang hoặc từ trong chính quá trình biên mục.
RDA là sự kế tiếp AACR2 chứ không phải là một phiên bản chỉnh sửa của AACR2 dù rất nhiều chỉ dẫn của RDA cho kết quả giống như chỉ dẫn của AACR2.
III. Những khác biệt cơ bản giữa RDA và AACR2 bao gồm:
Cũng giống như AACR2 trong giai đoạn đầu, RDA hiện nay vẫn đang trong quá trình chỉnh sửa, thử nghiệm và tiếp nhận các ý kiến đóng góp. Chúng ta có thể nhận thấy một số điểm khác biệt căn bản giữa RDA và AACR2. Cụ thể là:
Ví dụ, RDA sẽ cho người dùng tin biết tác phẩm A còn có phần tiếp theo tên là ADC hay nhà soạn nhạc B cũng đã sáng tác một bản nhạc khác có tên là XYZ…
RDA quy định không sử dụng các chữ cái La tinh viết tắt và các từ viết tắt khác trừ khi chúng xuất hiện
Nguồn lấy thông tin cho thông tin trách nhiệm: AACR2 (1.1A2) quy định lấy từ nguồn lấy thông tin chính của tài liệu đang mô tả; thông tin đưa thêm vào từ những nguồn khác được đặt trong dấu ngoặc vuông [ ]. RDA 2.2.2 và 2.4.2.2 mở rộng nguồn lấy thông tin cho thông tin trách nhiệm. Chỉ thông tin trách nhiệm nào lấy bên ngoài tài nguyên mới phải đặt thông tin trong dấu ngoặc vuông [ ].
trên nguồn ưu tiên lấy thông tin. Không dùng [s.n], [s.l.], [et al.], “p.” , “ill.”, “col.”, “v.”, hay “no” trong mô tả.
Thông tin nhan đề: Đối với tài nguyên là chuyên khảo, nếu có lỗi chính tả trong nhan đề, chuyển tả cả lỗi chính tả, sau đó cung cấp nhan đề chuẩn ở trường 246 ( theo RDA 1.7.9, và 2.3.1.4); đối với tài nguyên là tạp chí và nguồn tin tích hợp, chuyển tả nhan đề sau khi đã sửa lỗi chính tả của nhan đề
RDA quy định nếu một thông tin trách nhiệm có nhiều tên chủ thể sáng tạo, chuyển tả tất cả tên các chủ thể đó, hoặc chuyển tả tên chủ thể sáng tạo đầu tiên, sau đó đặt trong dấu ngoặc vuông [ ] số lượng tên chủ thể không được chuyển tả (không áp dụng quy tắc [et al.] như của AACR2)
RDA 2.4.1.4 quy định: không được phép bỏ tước hiệu quý tộc, danh hiệu tôn vinh, địa chỉ, những chữ viết tắt của tổ chức, ngày thành lập, khẩu hiệu; hoặc rút ngắn các thông tin này nếu không làm mất đi ý nghĩa cần thiết của nó (nguyên tắc 1.1F7 của AACR2 cho phép bỏ trong một số trường hợp)
RDA coi năm đăng ký bản quyền của tài nguyên là một yếu tố độc lập, không phải là yếu tố phụ, hay yếu tố bổ sung cho năm xuất bản.
Vì mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho người dùng tin, RDA khuyến khích: nếu trên tài nguyên không hiển thị năm và nơi xuất bản, phát hành, sản xuất tài nguyên thì cán bộ biên mục nên đưa ra năm và nơi phỏng đoán; không sử dụng [s.n.] hay [s.l.] mà thay bằng cụm từ [không xác định được tên] và [không xác định được địa điểm].
RDA quy định cung cấp đầy đủ các chi tiết vật lý về tài nguyên nếu có thể. Ví dụ như: 1 tài liệu trực tuyến (68 trang), 1 đĩa vi tính (1 file âm thanh, 1 file hình ảnh)
Điểm truy cập: RDA quy định lập bản mô tả chính cho chủ thể sáng tạo đầu tiên và lập bản mô tả bổ sung cho tất cả chủ thể còn lại nếu tài nguyên có hơn 1 chủ thể sáng tạo (khác với quy định của AACR2 21.6C2, 21.30B1)
Nhan đề đồng nhất: RDA quy định lập bản mô tả bổ sung (tên – nhan đề ) tương ứng với từng ngôn ngữ (so sánh với quy định của AACR2 25.5C1)
RDA coi Kinh ước và các sách thuộc Kinh thánh (Bible) như là một phần của Kinh thánh, chứ không phải là một phần của Kinh Cựu Ước hoặc Kinh Tân Ước.
Tài nguyên là tài liệu âm nhạc: RDA mở rộng việc chuyển tả tất cả phương tiện biểu diễn; có thêm nhiều điểm truy cập theo tên của người soạn lời nhạc kịch (libretto); có thêm nhiều điểm truy cập cho tác phẩm mà một đoạn cađenza được viết cho tác phẩm ấy.
IV.. Sự tương thích giữa MARC21 và RDA
Về mặt lý thuyết, RDA được xây dựng trên cơ sở của AACR2 nên các biểu ghi sử dụng quy tắc biên mục RDA mang tính tương thích với biểu ghi sử dụng quy tắc biên mục AACR2. Trong đa số các trường hợp, cán bộ biên mục không phải chỉnh sửa lại các biểu ghi sử dụng quy tắc AACR2. Tuy vậy, không chỉ đối với cộng đồng thư viện Việt Nam mà ngay cả với cộng đồng thư viện thế giới, việc tạo ra sự tương thích cao độ giữa MARC21 và RDA nhằm chuyển đổi một cách dễ dàng, tránh sai sót và giảm tải công việc chỉnh lý biểu ghi là một vấn đề quan trọng, cần được quan tâm xem xét kỹ lưỡng.
Một số thay đổi cơ bản cần được thực hiện trong MARC21 và RDA để giúp chúng tương thích với nhau. Các thay đổi đó bao gồm:
Trong MARC21, cần thêm các trường con sau đây
Đặc biệt phải bổ sung thêm trường 336, 337 và 338 trong MARC 21 tương ứng với kiểu nội dung, kiểu phương tiện trung chuyển và kiểu vật mang tin của RDA. Ngoài ra MARC 21 cũng cần duy trì tính linh hoạt liên quan đến loại biểu ghi (thư tịch, có thẩm quyền) đồng thời hỗ trợ việc sử dụng các tập tin phẳng, cấu trúc có thẩm quyền, cấu trúc thư tịch và cấu trúc hướng đối tượng.
Bản thân RDA cũng phải có một số điều chỉnh để phù hợp với trường 507 (kích thước), 518 (thời gian và địa điểm) và 524 (trích dẫn ưu tiên). Bên cạnh đó, nếu cán bộ biên mục có thể đưa thêm các từ khoá vào danh mục có sẵn của RDA thì việc xử lý các từ khoá sẽ như thế nào nếu chúng được hiển thị bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, làm thế nào để kiểm soát tính nhất quán, khoa học và chính xác của chúng, … Đặc biệt là các yếu tố và các chương còn dang dở, đang cần bổ sung của RDA sẽ được tiếp nhận ra sao, tương thích với MARC 21 như thế nào. Đây cũng là vấn đề cần quan tâm đối với những người có liên quan. .
V. Kết luận
Dù chúng ta có cố gắng chỉ ra và chứng minh nhiều điểm ưu việt của RDA thì một số nhà chuyên môn và cán bộ thư viện vẫn cảm thấy chưa thật sự an tâm và hài lòng về RDA như một số thuật ngữ không có định nghĩa rõ ràng, một số chương quá dài và phức tạp, … Tuy vậy, RDA mới đang ở giai đoạn “thơ ấu” của nó và sẽ phát triển, hoàn thiện dần hơn theo thời gian.
Việc áp dụng RDA ở Việt Nam sẽ không dễ dàng, thậm chí là rất khó khăn so với thư viện thế giới khi mà thời gian Việt Nam chuyển đổi từ Khung phân loại BBK và Khung phân loại 19 lớp sang sử dụng AACR2 chưa lâu, các cán bộ biên mục mới hoặc chưa hết bỡ ngỡ với AACR2, nay lại chuyển sang một quy tắc khác. Bên cạnh đó, hệ thống phẩn mềm quản trị tích hợp của thư viện Việt Nam còn đang gặp rất nhiều vướng mắc, trình độ tin học của đội ngũ cán bộ thư viện không đồng đều, các hệ thống cơ sở vật chất khác còn phải hoàn thiện hơn nữa và chưa có một RDA ấn bản tiếng Việt.
Khó khăn khi chuyển đổi là không tránh khỏi. Nhưng để hội nhập với thư viện thế giới, chuẩn hoá chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng tốt nhất nhu cầu người dùng tin và tồn tại, phát triển trong thế giới của công nghệ số và web, thư viện Việt Nam cần phải nỗ lực, quyết tâm để chuyển đổi dần dần sang RDA theo một kế hoạch, lộ trình rõ ràng, cẩn trọng và khoa học, để thư viện đã, đang và sẽ là cầu nối giữa người dùng tin và tri thức nhân loại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Vũ Minh Huệ, Phòng Công tác Nghiệp vụ, Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
*Bài viết dựa trên tham luận gửi Tọa đàm “Mô tả và truy cập tài nguyên thông tin (RDA) và khả năng áp dụng tại Việt Nam” do Thư viện Quốc gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào 25/2/2011.
Gia hạn sách | Tuyên bố bản quyền | Site map| Nội quy | Liên hệ
Lên đầu trang