Một thời gian dài, người ta cho rằng yếu tố quyết định trong quản lý là tài năng, kinh nghiệm và linh cảm của người quản lý, tức là yếu tố nghệ thuật. Những điều kiện đó có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý, nhất là gập những trường hợp thiếu thông tin cần thiết. Song thực tiễn cũng cho thấy tình huống thì luôn luôn thay đổi và không bao giờ lập lại nguyên xi như cũ cho nên cách giải quyết một trường hợp trong quá khứ có thể không thích hợp với trường hợp tương tự trong tương lai.
Mặt khác, chính trong quản lý cũng có nhưng nguyên tắc ổn định, bền vững và khoa học xuất hiện từ những điều đó. Ngoài ra, trong quản lý có vai trò con người và một khi đã tồn tại quy luật khách quan thì con người sẽ nhận thức và vận dụng. Vì thế, quản lý vừa là một sự thống nhất giữa khoa học và nghệ thuật.
Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư tưởng tích luỹ trong quá trình lịch sử, có mục đích phát hiện những quy luật khách quan của các hiện tượng và giải thích các hiện tượng đó.
Trong quản lý có nhiều sự kiện, nhiều tài liệu có tính chất kinh nghiệm rất bổ ích nhưng chúng không phải là những nguyên tắc tạo thành hệ thống lý luận. Vì vậy, quản lý giáo dục được coi là một lĩnh vực sáng tạo, hệ thống tri thức như trên có dạng lý luận nghệ thuật vì: ” cũng giống như khoa học, nghệ thuật là một công cụ nhận thức song đặc điểm của nó là phản ánh, là tạo lại hiện thực dưới hình thức những hình ảnh nghệ thuật mà giác quan có thể tiếp thu được ”.
Ngày nay, quàn lý giáo dục đã phát triển thành một ngành khoa học có mã số chuyên ngành riêng và có sơ sở lý luận riêng. Để quản lý tốt, không chỉ cần nắm các luận điểm cơ bản của khoa học quản lý giáo dục, mà còn cần nắm vững các quy luật cơ bản sự phát triển giáo dục cũng như các khoa học liên quan đến giáo dục. Vì vậy, hiểu biết về Triết học, về Khoa học về con người, Khoa học giáo dục, Tâm lý học sư phạm, Giáo dục học, Xã hội học giáo dục.... đối với cán bộ quản lý giáo dục là rất cần thiết.
Quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội, đồng thời là một dạng lao động đặc biệt mà nét đặc trưng của nó là tính tích cực sáng tạo, năng lực vận dụng những tri thức đã có để đạt mục đích đặt ra một cách có hiệu quả, là sự cải biến hiện thực. Do đó, chủ thể quản lý phải biết sử dụng không chỉ những chuẩn mực pháp quyền, mà còn sử dụng cả những chuẩn mực về đạo đức, xã hội, tâm lý... nhằm đảm bảo sự thống nhất và những mối quan hệ trong quả trình quản lý. Trong hoạt động quản lý, nhà quản lý luôn luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả tốt hơn. Bản thân công việc đó đã mang tính khoa học. Hơn nữa, các hoạt động quản lý đều chịu sự chi phối bởi các quy luật khách quan; và khi khoa học quản lý xuất hiện và ngày càng hoàn thiện thì tất yếu, nhà quản lý phải tận dụng nó phục vụ lợi ích của mình.
Ngày nay, người cán bộ quản lý muốn quản lý tốt phải được trang bị những tri thức cần thiết về Khoa học quản lý. Điều này đã được Nhà nước ta xác nhận trong Luật Giáo dục: “ Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý giáo dục” (Điều 49) có nghĩa là muốn làm cán bộ quản lý thì phải học nghiệp vụ quản lý, không thể làm theo” kinh nghiệm chủ nghĩa” được, tuy nhiên đây mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ.
Ngoài trình độ khoa học về quản lý, nhà quản lý còn phải có nghệ thuật quản lý nữa. Điều này ở trên ra đã nói về khi bàn về “ thuật “, một trong ba yếu tố quản lý theo quan niệm của Hàn Phi Tử. Nghệ thuật quản lý giáo dục được hiểu là tổng hợp của Khoa học Giáo dục, Khoa học quản lý giáo dục, kinh nghiệm quản lý và sáng tạo của chủ thể quản lý. Khoa học quản lý giáo dục ngày càng phát triển, hoàn thiện và dần dần trở thành một khoa học độc lập vì nó có đối tượng nghiên cứu, có hệ thống phạm trù, khái niệm, các phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu riêng. Các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý phân tích nó, vận dụng nó cho phù hợp với điều kiện khách quan của thực tiễn giáo dục. Tuy nhiên, Khoa học quản lý giáo dục tuyệt đối không phải là đơn thuốc vạn năng để có thể áp dụng có hiệu vào bất ký tình huống nào. Chính V.I.Lênin đã phê phán: “ Sáng tác ra một đơn thuốc như thế hay một nguyên tắc chung như thế để có thể dùng cho mọi trường hợp thì thật là một hành động lố bịch “. Trong khi đó, thực tiễn là vô cùng phong phú và đầy biến động. Hoạt động quản lý lại là hoạt động thuộc lĩnh vực thực hành, đòi hỏi người quản lý phải luôn luôn xử lý những tình huống khác nhau. Nhưng, xử lý như thế nào lại phụ thuộc vào nghệ thuật của từng người. Nghệ thuật ở đây bao gồm: kỹ năng sử dụng phương pháp, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng lôi cuốn quần chúng..... nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra.
Chẳng hạn, trong một trường học hay một đơn vị nào đó, người hiệu trưởng mới thay thế hiệu trưởng cũ, nhờ tài quản lý của mình mà nhà trường khởi sắc hơn trước. Song, trường hợp ngược lại cũng không phải là không có trong thực tiễn giáo dục. Rõ ràng, hành vi khôn khéo, sáng tạo là cần phải có và nó thuộc nghệ thuật quản lý, cái mà Hàn Phi Tử gọi là : “ thuật “.Điều cần lưu ý rằng, tính khoa học và tính nghệ thuật trong quản lý giáo dục luôn luôn gắn bó với nhau. Nếu chỉ chú ý đến nghệ thuật thì hoạt động của nhà quản lý mất định hướng, kết quả hoạt động thiếu bền vững, ổn định, có tính may rủi. Ngược lại, chỉ chú ý đến tính khoa học thì dễ rơi vào cứng nhắc, máy móc, giáo điều.
Nói tóm lại, quản lý giáo dục vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Đó chính là đặc thù của quản lý giáo dục.
Phùng Ngọc Sáng
Gia hạn sách | Tuyên bố bản quyền | Site map| Nội quy | Liên hệ
Lên đầu trang